no comments

Nạp chưng – tặng của hồi môn, làm lễ ăn hỏi

Nạp chưng là sau khi hai bên nam nữ đã ký hôn, nhà trai tặng lễ vật cho nhà gái, cũng chính là tặng của hồi môn, làm lễ ăn hỏi mà người đời sau thường gọi. Chỉ sau hoàn thành nghi thức này, nhà trai mới có thể sang nhà gái.

  • 12 vật phẩm phong thủy cát tường cho hôn nhân và tình yêu
  • 7 vật phẩm phong thủy mang lại may mắn sinh con

Nạp chưng là nghi thức quan trọng nhất trong hôn nhân truyền thống người Việt xưa, cũng là nghi thức đặc sắc nhất. Vì thế, hôn nhân truyền thống Việt Nam cũng gọi là “hôn nhân mua bán”.

Nạp chưng thời xưa tương đương với việc đem sính lễ ngày nay. Thời gian tặng lễ, theo lệ thường được định vào ngày trước khi chính thức đón dâu.

Người xưa thường gọi nạp chưng là “đón đại lễ”, cũng gọi là “hoàn sính”, “đại sính”. Đây là tiêu chí quan trọng bước vào giai đoạn hôn nhân, cũng là nghi thức đặc sắc nhất và quan trọng nhất trong tập tục hôn nhân truyền thống xưa. Khi nhà trai sang nhà gái tặng lễ, phải chọn ngày chẵn tốt lành, do người mai mối (đa số là phụ nữ) cùng cha mẹ và họ hàng (chủ yếu là cô ruột) của nhà trai, mang theo sính lễ đến xem mắt. Dùng chỉ vàng may hai chữ “sinh canh” vào lụa đỏ, sính lễ mang theo bao gồm:

  • hoa vàng (đa phần là trâm),
  • vòng vàng 1 cặp,
  • nhẫn vàng (một chiếc là vàng, một chiếc là đồng) 1 cặp,
  • thịt heo, rượu hỉ, thịt dê, cao tử,
  • 2 thước 4 tấc lụa đỏ, lụa sa đen,
  • nến bốn cặp, pháp, nhang lễ 2 cặp,
  • bông tai một cặp
  • hoa gừng (bánh hoa gạo đường), bánh lễ v.v…

Sính lễ được bày trên một chiếc hộp lớn do hai người khiêng, sau đó chiếu theo trình tự người thổi kèn đánh trống đi trước, theo sau là bà mai, suốt đường đi cứ thổi thổi đánh đánh cho đến khi đến nhà gái.

Thiếp lễ là tấm giấy ghi danh sách lễ vật và bảng trình tự nghi thức. Nhưng văn pháp phải cầu kì, như gà vịt thì viết “Đức cầm tứ dực, gia phù tứ chưởng”, chuối thì viết “liên chiêu quý tử”, vòng vàng thì viết “vòng vàng thành đôi”, nến thì viết “hỉ chúc song huy” v.v…

Bảng ghi sính lễ dùng giấy đỏ gấp thành 12 gấp. Nếu là nhà trai tặng cho nhà gái, trên mặt phải viết hai chữ “đoan túc”; nếu là nhà gái tặng cho nhà trai, trên mặt phải viết hai chữ “túc phụ”, nội dung là câu kiết tường trong “Lễ Kí”.

“Hôn thư” tương tự như giấy chứng nhận kết hôn ngày nay, nhà trai trao cho nhà gái gọi là “càn thư”, nhà gái trao cho nhà trai gọi là “khôn thư”.

“Long nhãn khô”, “thịt gà”, “thịt vịt” trong sính lễ, là tượng trưng cho phúc khí của nhà trai, nếu nhà gái tiếp nhận thì có nghĩa là lấy đi phúc khí của nhà trai, cho nên chiếu theo lệ thường đều phải hoàn trả lại.

“Long nhãn khô” tượng trưng cho đôi mắt của con rể, nên phải hoàn trả lại đủ. Còn đối với thịt heo, nhà gái có thể nhận, nhưng theo phong tục, phải mang giò heo hoàn trả lại, vì nó có nghĩa là “thịt phải đưa người ăn, xương không đưa người gặm”, nếu nhà gái nhận giò heo này, nghĩa là nhà gái không tỏ ra lễ mạo đối với nhà trai. Còn những sinh lễ khác đều nhận bình thường.

Nhà gái sau khi nhận sính lễ (nhưng chỉ nhận một phần trong đó), còn cộng thêm mười hai loại lễ vật khác, hoàn trả lại cho nhà trai đáp lễ. Sau đó nhà gái hầu trà nhà trai, cuối cùng nhà trai mới tiếp nhận sự thiết đãi của nhà gái. Nhà trai tiếp nhận sự thiết đãi nồng hậu này, phải đến mỗi bàn dâng bạc tạ lễ.

Nhà trai và nhà gái lúc này đều phải thân hữu chi giao, biểu thị hai bên đã kết thành xui gia một nhà. Nhà trai cũng đem hôn thư cúng bái trước thần phật và tổ tiên, báo cáo đã cùng nhà gái kết thành thông gia.

Nếu nhà gái dự tính khi kết hôn của hồi môn phải nhiều, thì họ có thể không cần khách khí nhận toàn bộ sính lễ của nhà trai, chỉ lấy ra một phần nhỏ làm hồi lễ; trái lại nếu nhà gái dự tính sau này của hồi môn không nhiều, thì chỉ tiếp nhận một phần nhỏ sính lễ của nhà trai, đa phần đều hoàn trả lại với danh nghĩa tạ lễ. Cho nên có thể thấy, nếu nhà gái tiếp nhận sính lễ bao nhiêu, thì của hồi môn tương lai sẽ bấy nhiêu.

Mời bạn xem thêm: vòng tay phong thủy , phật bản mệnh , mặt dây chuyền văn thù bồ tát .

Reply