no comments

Cơ bản về tướng pháp, tướng số

Tướng pháp là bộ môn khoa học cổ đại đã có từ hàng nghìn năm trước, đến nay vẫn được nhiều người yêu thích, tìm tòi với mục đích gìn giữ, phát huy và phát triển. Dưới đây là 6 khái niệm cơ bản cho người mới bắt đầu nghiên cứu về tướng pháp.

I. Tướng mạo

Người sinh ra có hình thể, diện mạo ngay từ lúc chào đời “3 tiếng khóc”.

Hình thể, diện mạo, định hình dần cùng với nhân cách: bản chất, cử chỉ, tâm tính, hành động v.v…

Hình thể và diện mạo gắn chặt với những đức tính làm cho quan niệm cần phải tìm hiểu nó. Bởi vậy mà từ hàng nghìn năm trước công nguyên, ở nhiều nơi trên trái đất, những nhà “tiên tri”, “thức giả” đã đề cập một phương cách xem xét và phán đoán bản tính con người qua hình thể và diện mạo. Sự hoàn chỉnh dần cách thức nhận xét đã ra đời môn tướng pháp với một tướng lý khoa học.

Từ chỗ truyền miệng nhau đến làm thành những câu phú (thời Ma-y tiên sinh khoảng 965) đến những câu thơ, ca dao cho dễ nhớ như: “Đàn ông không râu bất nghi; Đàn bà không vú lấy gì nuôi con” hay “Mắt trắng giã, môi thâm xì trai thì bất nghĩa, gái mi sát chồng” v.v…

Đấy, tướng hình suy ra nhân cách. Nó có được từ phương pháp điều tra và tổng hợp chứ không phải vu vơ không căn cứ.

II. Súc vật, cỏ cây cũng có hình tướng

Không phải trên trái đất chỉ có con người có hình thể, diện mạo mới có bản tính. Các loại vật cũng có bản tính cỏ cây cũng “kén đất”. Từ xưa đã có quan niệm rằng: Người có linh hồn. Súc vật có sinh hồn. cỏ cây có giác hồn. Khi đã có “hồn” thì có tính cách. Hồn từ hình mà biểu hiện (biểu hiện ra ngoài). Cái gọi là nhân cách, súc cách, giác cách là do thiên (tại trời) tạo. “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”. Không phải cái gì không giải thích được thì ta đều đổ tại “Trời”. Hoặc gò ép lý giải võ đoán.

Đối với sự khó hiểu – huyền bí, ta chỉ cần nghĩ rằng: hình thế nào thì tính thế vậy. Tính thế nào thì hình lộ ra như vậy. Quan niệm như thế thì “Tướng pháp” không phải thứ mà ta gọi là khoa học huyền bí. Mà ngược lại nó có tính “nhân quả” và hiện thực. Hãy lấy cái “quả” để xét cái “nhân ” bằng phương pháp điều tra, tổng hợp rất thực tế và khoa học. Hãy cứ chấp nhận một cách “thông hiểu” như vậy để đừng gán cho khoa Tướng pháp là khoa học huyền bí.

III. Tướng pháp là nghiên cứu về thực thể

Ngày xưa cha ông ta đã có câu: “Trông mặt mà bắt hình dong; Nước suýt có béo thì lòng mới ngon”. Như vậy ta thấy rằng từ một thực thể nhìn thấy “trông mặt” và “nước suýt” (nước luộc lòng) thì hiểu được bản chất con người hay cái “chất” ngon của lòng.

Điều đó cho ta một nhận thức: Khoa Tướng pháp đâu phải thứ “huyền bí”. Tướng pháp là nghiên cứu những thực thể, phân loại sắp xếp bằng phương pháp điều tra, tổng hợp quy nạp các thực thể đó rồi đối chiếu vào quá trình sống thực, trải nghiêm; để có được những thông tin về bản tính, thái độ, tình cảm, cuộc sống cá thể: Giàu, nghèo, thông minh, ngu đần, hạnh phúc và bất hạnh, hiền lành và gian xảo, chân thành hay mưu mô, thiện tâm và ác độc, khổ và sướng, thọ và yểu, nhàn hạ hay vất vả, khỏe mạnh hay ốm đau, sang trọng hay tầm thường, kiêu ngạo hay khiêm tốn, thật thà và dốì trá v.v…

Những cặp phạm trù tương phản trên đều có thể liên quan tới hình thể và diện mạo. Tính sắc xuất hay tính đồng đẳng đều đưa đến những kết quả hữu ích. Những người ngồi ở tĩnh điện – văn phòng chuyên tâm nghiên cứu tướng lý đã dày công đúc kết từ hàng nghìn năm.

Những người thực hành tướng pháp vận dụng lý thuyết vào thực tế và kiểm chứng đúng sai cũng đã trải qua thực nghiệm hàng trăm năm. Công sức của hai nhóm tướng pháp không phải bỏ ra để làm một việc vô bổ. Mà họ làm để giúp ích cho xã hội và con người trong một phạm vi nào đó và cho chính bản thân họ.

IV. Tướng lý có quan hệ với nhiều môn khoa học

Khoa tướng pháp có tướng lý làm cơ sở lý luận. Có được lý luận mới thực sự khoa học. Tướng lý nghiên cứu sâu xa nguồn gốc phát sinh, những cơ sở và luận cứ khoa học mới đứng vững.

Tướng lý không đứng riêng lẻ một mình mà nó thừa hưởng nhiều kiến thức bổ trợ của các lý thuyết cơ bản của nhiều khoa, nhiều môn khác. Bởi vậy nói tướng lý có liên quan đến học thuyết âm dương, đến kiến thức Ngũ hành (Trung Hoa). Tướng lý liên quan tới Y lý, cả Đông y lẫn Tây y. Đông y có Y lý và Đông y với tướng pháp bể trợ cho nhau từ hàng trăm năm. Các lương y bắt bệnh dùng đến tướng pháp qua hình thể, sắc diện (quan, vấn, mạch…). Tướng pháp lại từ hình thể, sắc diện mà luận ra bệnh trạng. Ông Vị Tẩu đời Tống (Trung Hoa năm 420) không chỉ giỏi tướng pháp mà thạo đông y đã từng cho rằng tướng lý là một cánh tay giúp y thuật.

Tây y cũng đã rút ra rằng: nhiều bệnh tật được thể hiện ra bên ngoài làm thay đổi sắc thể; biến đổi hình thể nhiều bộ phận liên quan. Bác sỹ người Áo những năm nửa đầu thế kỷ 20 tên là Joself Renald cũng đã cho rằng sự biến đổi hình dạng và màu sắc của một số bộ phận trên có thể có liên quan tới tình trạng bất thường của một sô” cơ quan nội tạng v.v… (bệnh cảnh).

Như vậy, phương pháp suy luận và kiểm chứng thực tế giải phẫu và bệnh lý đã làm nhiều y gia có nhận thức đúng về sự liên quan giữa y lý và tướng lý.

Tướng lý là cơ sở ứng nghiệm của khoa học hình sự. Đã từ xa xưa khi mà trình độ học vấn của loài người còn hạn chế. Số người biết đọc, biết viết không nhiều. Khi giao dịch văn tự ra đời, các nhà xã hội đã nhờ sự gợi ý của các nhà tướng – lý mà phương pháp “điểm chỉ” vào văn tự được ứng dụng.

Khi nghiên cứu tướng lý các tướng thuật gia thấy rằng có nhiều bộ phận trên có thể người thuộc “tiên thiên ” và “bất biến ” (mới sinh ra đã vậy) và (không thay đổi suốt đời).

Một bộ phận trong số đó là vân (văn) ngón tay người. Vì thế nó được coi là một trong điều kiện để bảo lưu minh chứng, vấn đề thứ hai là hàng tỷ người không ai có vân tay giống ai. Vì thế là điều kiện thứ hai đã bảo chứng.

Với 2 điều kiện rất cơ bản ấy mà phương pháp điểm chỉ thay cho chữ ký đã được ứng dụng. Và bây giờ vẫn đang được sử dụng trong việc lưu giữ “chứng minh thư”.

Thời đại số phát triển, vân ngón tay đang được ứng dụng rộng rãi ở các nước tiên tiến trên các thẻ nhớ, thẻ bảo mật, thẻ nhận dạng v.v…

Ngoài ứng dụng như đã nêu, ngày nay trong công tác hình sự, tướng pháp cũng giúp ích đắc lực trong công tác điều tra. Những điều tra viên có kiến thức tướng pháp sẽ là một lợi thế ban đầu cho hướng điều tra phá án.

Trong xã hội cái gọi là “linh cảm ” từ một thực thể hình dạng, diện mạo, sắc khí để cảm nhận một điều gì đó. Cái đó chính là đã sử dụng tướng lý.

Sau này, con người được “nhân bản” như trong các phim khoa học viễn tưởng hiện hành, không rõ vân tay có giống nhau giữa hai con người chính và người “nhân bản ” hay không!? Nếu viễn tưởng thành hiện thực.

Song, tôi thiết nghĩ “nhân bản ” cũng giống “phiên bản ” photocopy thì đâu có khó nhận ra. Dầu cho khoa học phát triển như viễn tưởng thì khó thay thế tạo hóa (trời) mà tạo ra người như ý muốn.

Tướng lý với tâm, sinh lý.

1) Tướng lý không tách rời kiến thức tâm, sinh lý. Tâm lý có nghiên cứu khí chất tính cách… Người ta không chỉ nói đến: Plamantique, Mélangcolique, Colique v.v… Những tính khí đặc trưng tâm lý đó, mà ngành tâm lý học còn đề cập có tính nội sinh. Còn tướng lý lại nối liền mối liên quan nội sinh với ngoại sinh. Tức là mối liên hệ từ tư tưởng bên trong với hình thể bên ngoài, diện mạo (tướng mặt) bên ngoài.

Từ hình thể, diện mạo suy ra nhân cách. Đó là phép ngoại suy logic. Nó không tự có vu vơ. Từ một ngành khoa học đã được truyền dạy cho các nhà giáo dục, nhà chính trị, nhà xã hội, người làm công tác hình sự. Nó có tính khoa học. Đó là khoa tâm lý học, mà tướng pháp liên quan. Việc làm của các tướng thuật gia là tìm đến sự biểu hiện “nhân quả” – biểu lý của thực thể mà ứng dụng, nhằm thỏa mãn mong muôn biết trước điều gì đó về bản thân. Tâm lý con người ai chả vậy.

2) Phân tích tướng pháp, ta thấy sử dụng nhiều đến những hiểu biết sinh lý. Từ thực thể cấu trúc khung xương của cá thể (kiến thức sinh lý) để suy đến những thông tin về cá thể đó. Ví dụ thông tin về thể chất, về thọ yểu, về tính cách v.v…

Như vậy không thể nói tướng lý xa rời sinh lý. Thời xa xưa ở Trung Hoa, đời nhà Đường (năm 618 – 906) có ông Viên Thiện Cương, Viên Trung Triệt; ông Lưu Cơ ở thời Nguyên Minh (1285 – 1357) và ông Từ Thuận ở đời nhà Tùy (năm 580 – 617) họ đều là các học giả nghiên cứu sâu xa tướng lý và sinh lý. Họ là những tướng thuật gia tài ba kiến thức thâm hậu nổi tiếng các thời đại.

V. Một tướng lý nhiều trường phái

Tướng lý là cơ sở lý luận cơ bản để dựa vào đó mà phát triển bổ sung các phương pháp và đó là điều hiển nhiên. Vì vậy những tướng thuật gia đều phát kiến ra các phương cách khác nhau để xem xét tướng mạo.

Trong thực tế tướng pháp tuy chỉ nghiên cứu về người mà thôi thì cũng vô cùng phong phú. Chỉ nghiên cứu tướng hình một bộ phận thôi cũng rộng lớn rồi. Bởi vậy, nhiều trường phái đi sâu vào một số khía cạnh, góc nhìn để tìm hiểu, ứng dụng.

Tuy nhiên, trường phái nào cũng đều quan tâm những thông tin về: phú, quý, thọ, yểu, minh, khang, yếu, hèn, sang, đần, thiện ác v.v…

Mỗi “phép” – phương pháp đều có cái hay và những hạn chế. Cái hay là đơn giản hóa, cụ thể hóa, để dễ hiểu, dễ nhận biết. Cái hạn chế là không có nét riêng biệt, có tính sáng tạo. Sự khác biệt có chăng là loại bỏ cái khó hiểu này thì lại đề ra thứ khó hiểu khác.

Một số nhà nghiên cứu tướng pháp Việt Nam thì việc đem nguyên những khái niệm và thuật ngữ tướng pháp Trung Hoa trong khi tiếng Việt thừa khả năng biểu đạt. Mặt khác, tướng pháp Việt Nam phải nghiên cứu người Việt Nam. Tham khảo và kế thừa, chắt lọc và lựa chọn để áp dụng là điều hiển nhiên trong khoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học.

Nhưng không thể cái gì cũng bệ nguyên trong khi thứ mình có mà không dùng. Hơn nữa dân tộc này khác dân tộc khác. Tướng pháp có thể có tính chủng tộc, nhưng nhất tiết phải mang tính dân tộc, bộ tộc. Có như vậy mới hợp lý cả thực tiễn và tính khoa học.

Người Việt từ khi gọi là dân “giao chỉ” (Hai ngón chân cái choạc ra chầu vào nhau) đến người Việt Nam ngày nay trải 4000 năm phát triển đã hoàn mỹ dần dần về hình thể và nâng cao dần về trí tuệ, dân trí. Song những chuẩn mực nhân cách cơ bản vẫn giữ nguyên phần lớn các tiêu chí. Những nét mới về cử chỉ, hoạt động, tình cảm, hạnh phúc… cần được nhận định khác hơn về phương diện tướng pháp.

Như vậy, chẳng những về hình thể mà về các hành vi ứng xử phải được nhìn nhận khác hơn, bổ sung thêm nhằm làm cho tướng pháp ngày càng gần với thực tế Việt Nam.

ở Châu Âu khi nghiên cứu tướng lý, họ cũng tham khảo tướng lý Á Châu nói chung và tướng lý Trung Hoa nói riêng. Họ cũng áp dụng thuyết Âm Dương, Thuyết Ngũ Hành để đưa ra quan điểm vào tướng pháp Châu Âu: ví dụ họ chia bàn tay ra 4 phần: Thủy, Hỏa, Thổ, Khí. “Khí” là quan niệm mới của họ. Hay họ chia bàn tay thành phần Âm và phần Dương.

Ở Trung Hoa (Trung Quốc) ngay trong một thời đại (nhà Minh khoảng 1369 – 1649) cũng sinh ra nhiều trường phái tướng pháp ví như: phái Tứ độc, phái Ngũ tinh… Phái gọi là “Phái Viên Củng” (Tên của Viên Củng, một tướng thuật gia giỏi ở đời Minh); tương đương đời nhà Trần từ Trần Nghệ Tông, niên hiệu Thiệu Khánh đen đời Lê Chân Tông, niên hiệu Phúc Thái (Lê Chân Tông tên tự là Duy – Hựu) 1643 đến 1649 của lịch triều Việt Nam.

Phái Viên Củng (gọi là phái vì có nhiều tướng thuật gia học theo. Vì Viên Củng đưa ra “36 phép xét tướng mạo người” nên có tên “tướng phái 36 phép ”. Vị “Liễu Trang Cư Sỹ” này tâm đắc với sáng kiến của mình. Ông truyền dạy cho con trai và học trò hàng chục người. Con trai ông là Viên Trung Kiệt (cũng giỏi tướng pháp nhưng lại thiếu đức) đã truyền lan rộng rãi thành lập phe phái mà là phái “giang hồ” lấy nghề xem tướng kiếm sống gây nhiều điều không hợp đạo lý.

Khi khoa tướng thuật thịnh hành, nó làm ra đời nhiều phe phái. Khi phe phái mọc lên nhiều xảy ra bài xích lẫn nhau. (Chủ yếu là phái thực hành tướng pháp – “Phái giang hồ”. Còn phái nghiên cứu tướng lý và tướng pháp thì ít phản bác nhau, “phái thư phòng” này không lộ diện ra ngoài. Họ đều là bậc học giả có đức độ…). Ví như phái “bát học đường” chê phái “tứ học đường” đều thuộc “giang hồ”.

Tướng lý thì ngày càng sâu rộng, phong phú, sát thực; giảm bớt tính gọi là “huyền bí” mà khoa học và thực tế hơn. Tướng lý gắn kết với nhiều môn khoa học làm cho tướng pháp mang tính khoa học và thiết thực giúp vận dụng hữu ích vào đời sông và thỏa m ãn tính hiếu kỳ vốn dĩ của con người.

Thế kỷ 21, khoa học tự nhiên đạt nhiều thành quả. Khoa học ứng dụng ngày càng phát triển rực rỡ góp phần nâng cao khả năng cho con người cải thiện đời sông, chinh phục thiên nhiên, vũ trụ; đáp ứng ngày càng thiết thực hơn mơ ước của con người. Nhưng thế kỷ 21 cũng sẽ là một thế kỷ mà nhiều học giả đầu tư nhiều công sức vào nghiên cứu lĩnh vực tâm linh. Tâm linh có sức cuốn hút sự tò mò của con người. Khi các nhà khoa học có thể có trong tay những phương tiện và điều kiện, công cụ và thực tiễn để nghiên cứu, nhiều vấn đề sẽ được sáng tỏ.

Thế kỷ 21 là thế kỷ mà phụ nữ tham gia chính trường nhiều. Thế kỷ của phụ nữ.

Thế kỷ 21 là thế kỷ một đạo làm loạn đạo.

Thế kỷ 21 là thế kỷ của tâm linh.

T hế kỷ 21 nước biển sẽ dâng cao nguy cho thành Veni nước Ý.

Đó là những điều dự đoán từ th ế kỷ 20.

VI. Những thay đổi của người Việt Nam

Tướng pháp cần quan tâm tới sự thay đổi về thể hình và chỉ sô” trí tuệ nói chung, về tập quán, đời sông, ví dụ người Việt Nam năm 1980 đã cao hơn trước (1945), trung bình 1 cm. Trọng lượng tăng 1kg Nam và 3kg ở nữ. Chỉ sô” trí tuệ (IQ) tăng 30 – 40%. Đời sông đã được nâng cao 20%. Tuy rằng những chỉ sô” trên không đồng đều giữa các vùng thành thị và nông thôn; miền xuôi khác m iền ngược, ở m iền núi 1/3 dân số còn thiếu thốn, nông thôn vẫn còn 1/5 dân số  còn thiếu thốn, nhưng không có chết vì đói nghèo.

Từ đó ta thấy quan niệm nghèo hèn cũng phải thận trọng khi xem tướng mạo một ai đó. Ví dụ nghèo đói thành không dư dật, ngu đần thành thiểu năng trí tuệ. Ngôn từ cần phù hợp với nhận thức ngày càng khác của xã hội và dân trí.

Reply